Sốt và những điều cần biết

Cha mẹ nào cũng có ngày rơi vào hoàn cảnh: thức dậy nửa đêm và thấy con đứng bên giường, nhăn nhó, trán ấm hoặc người đẫm mồ hôi. Bé đã bị sốt - phải làm gì tiếp đây? Tự theo dõi hay gọi ngay cho bác sĩ?


Bạn có thể hoảng hốt khi thấy thân nhiệt của bé tăng lên, nhưng thực tế là điều đó không quá nghiêm trọng. Bản thân tình trạng sốt không gây hại, và đôi khi nó lại là một dấu hiệu tốt, vì đó thường là cách cơ thể chống lại sự nhiễm trùng.
Không phải tất cả các cơn sốt đều cần điều trị. Tuy nhiên, sốt cao có thể làm cho trẻ khó chịu và gặp một số vấn đề như cơ thể mất nước. Hãy lấy lại bình tĩnh và thực hiện những bước cơ bản nhất như lấy nhiệt độ chính xác của cơ thể bé và tìm cách làm cho trẻ dễ chịu hơn. Dưới đây là một số biện pháp điều trị sốt, và những dấu hiệu cần tới sự giúp đỡ của bác sĩ.

Thế nào là sốt?
Sốt là khi nhiệt độ cơ thể cao hơn bình thường. Nhiệt độ cơ thể bình thường trung bình 36.5oC (đo ở nách), 37oC (đo nhiệt độ dưới lưỡi) hoặc 37.5oC (nhiệt độ hậu môn). Sốt thường là đáp ứng của cơ thể với một bệnh nhiễm trùng, thường kéo dài hơn 2 đến 3 ngày. Ngoài ra, sốt còn có thể do những bệnh không nhiễm trùng khác, tiếp xúc với nước nóng, tập thể dục, sau chích ngừa hoặc trẻ khóc nhiều cũng làm tăng thân nhiệt.

Cách cặp nhiệt độ
1. Nhiệt độ ở nách:
- Lau khô vùng nách.
- Giũ mạnh cặp thủy thủy tinh sao cho mức thủy ngân ở dưới 35oC.
- Đặt bầu thủy ngân vào giữa vùng hõm nách. Đọc kết quả sau 10 phút.
- Nhiệt độ bằng hoặc trên 38oC được coi là sốt.

2. Nhiệt độ ở miệng (dưới lưỡi)
- Không ăn uống ít nhất 10 phút trước khi cặp nhiệt độ.
- Kiểm tra mức thủy ngân dưới vạch 35oC.
- Đặt bầu thủy ngân ở dưới lưỡi, ngậm miệng lại nhẹ nhàng (không cắn cặp thủy). Đọc kết quả sau 5 phút.
-Nhiệt độ bằng hoặc trên 38oC được coi là sốt.

3. Nhiệt độ hậu môn.
Cặp thủy được đặt vào ống trực tràng. Đây là nhiệt độ phản ánh trung thực nhiệt độ cơ thể nhất. Nên thực hiện cẩn thận vì nếu thô bạo có thể vô tình làm thủng ống trực tràng ở trẻ nhỏ. Nhiệt độ hậu môn bằng hoặc trên 38.5oC được xem là sốt.

Nguyên nhân
Sốt là triệu chứng thông thường của nhiều bệnh:
• Các bệnh truyền nhiễm như cúm, HIV hoặc sốt rét
• Các loại viêm khác nhau như nhọt, mụn, trứng cá, hoặc áp xe
• Các bệnh tự miễn như lupus đỏ, Sarcoidosisban, sarcoidosis
• Cơ thể phản ứng với sự bất tương hợp giữa các nhóm máu
• Ung thư
• Các bệnh Rối loạn tiêu hóa như gút or bệnh ma cà rồng (porphyria)
Sốt dai dẳng mà hiện nay y học vẫn chưa tìm được nguyên nhân được gọi là sốt không rõ nguồn gốc.

Điều trị
Để điều trị sốt đúng cách cần phải biết nguyên nhân gây ra sốt.
Trong hầu hết các trường hợp, ngoại trừ tăng thân nhiệt, thì acetaminophen hoặc ibuprofen đều có thể làm hạ thân nhiệt. Nên cung cấp thêm dịch cho cơ thể qua đường miệng hoặc tiêm tĩnh mạch để chống mất nước nếu cần thiết.
Sốt do nhiễm siêu vi có thể tự khỏi. Có thể bệnh nhân sẽ được cho những loại thuốc điều trị những triệu chứng đặc biệt khác. Có thể đó là những loại thuốc làm giảm thân nhiệt, trị nghẹt mũi, giảm đau họng hoặc trị sổ mũi. Virus có thể gây nôn ói và tiêu chảy và cần phải truyền dịch qua đường tĩnh mạch cùng với dùng thuốc để làm chậm lại tốc độ tiêu chảy và nôn ói. Một số ít loại nhiễm siêu vi có thể được điều trị bằng thuốc kháng siêu vi, trong đó có Herpes và influenza virus. Nếu bệnh nhân có thể uống nước được và triệu chứng nhẹ, bệnh nhân có thể về nhà được mà không cần ở lại bệnh viện.
Những bệnh nhiễm vi khuẩn cần phải có loại thuốc kháng sinh đặc hiệu để điều trị tùy thuộc và loại vi khuẩn được tìm thấy và nơi ở của nó trong cơ thể người. Các bác sĩ sẽ xác định xem người bệnh có cần phải nhập viện không hay có thể ra về được. Quyết định tùy thuộc vào bệnh hiện tại và những bệnh kèm theo khác của bệnh nhân.
Hầu hết những trường hợp nhiễm nấm đều có thể được điều trị bằng thuốc kháng nấm.
Sốt do thuốc có thể giảm sau khi ngưng thuốc.
Nếu bị huyết khối thuyên tắc, bạn nên đến bệnh viện và sử dụng thuốc tán huyết.
Đối với bệnh nhân bị sốt do tiếp xúc với nhiệt độ nóng ở môi trường cần phải được làm mát bằng cách cởi bỏ hết quần áo, mở quạt có phun sương, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn.


CÁCH KHÁM MỘT NGỪƠI BỆNH BỊ SỐT.
I. Nhận định sốt.
Sau khi đã xác định sốt bằng nhiệt kế, cần phải nhận định sốt về các phương diện.
1. Khởi phát.
- Đột ngột: đang khoẻ mạnh, người bệnh đột nhiên bị sốt cao ngay như trong cúm, sốt rét cơn, viêm bể thận, viêm mật quản, viêm phổi hoặc các nhiễm khuẫn ở nơi khác.
- Hoặc dần dần sau một thời gian mệt mỏi, khó chịu rồi mới bắt đầu sốt và nhiệt độ tăng lên dần dần như trong thương hàn, lao, bệnh thấp khớp.
2. Tính chất.
- Chỉ sốt như trong thương hàn, lao, viêm màng não, viêm não, sởi, thuỷ đậu…
- Hoặc khởi phát bằng một cơn rét run rồi sốt liên tục trong những ngày sau như trong viêm phổi, sốt hồi quy, sốt do xoắn khuẩn hoặc trong một số trường hợp cúm.
- Hoặc có những cơn rét run làm cho người bệnh phải đắp hai, ba chăn, rồi kèm theo sau là sốt ra mồ hôi, sau đó lại hết để tái phát lại nhiều lần trong ngày hoặc trong những ngày sau như trong: sốt rét cơn, viêm bể thận, viêm mật quản, các ổ nung mủ sâu, nhiễm khuẩn máu.
3. Diễn biến: việc theo dõi diễn biến, chủ yếu phải dựa trên biểu đồ nhiệt độ, rất có giá trị khi người bệnh sốt đã 5, 7 ngày trở lên, vì dựa trên đó, người ta mới chia ra làm nhiều loạii sốt có giá trị gợi ý hoặc đặc hiệu cho các bệnh gây ra sốt.
- Sốt liên tục: biểu diễn thành một đường hình cao nguyên, nhiệt độ cao suốt ngày, nhiệt độ sáng và chiều chênh lệch nhau rất ít, thường không quá 10C. loại sốt này thường gặp trong thương hàn, viêm phổi
- Sốt dao động: Biểu diễn thành một đường có nhiều hình tháp, trong đó quá trình sốt gồm nhiều cơn, giữa các cơn nhiệt độ có thể:
+ Không xuống hẳn bình thường: vẫn còn hơi sốt ( 3702 – 3705C); đấy là các loại sốt không dứt cơn, thường gặp trong bệnh nhiễm khuẩn máu, viêm mật quản, viêm bể thận, các ổ nung mủ tâu. Trong loại này, cơn sốt xảy ra vào bất cứ giờ nào trong ngày, khi vài ba cơn trong ngày, có khi vài ngày mới có một cơn.
+ Xuống hẳn bình thường: nhiệt độ tuyến thể hiện từng cơ n rõ ràng mỗi cơn cách nhau bằng một thời gian không sốt; trong đó người bệnh thấy thoải mái dễ chịu, tưởng như mình đã khỏi hẳn; đấy là loại sốt cơn, điển hình trong sốt rét cơn. Trong loại này cơn sốt xảy ra vào một giờ nhất định mỗi ngày (Pl. malarrine).
Trong loại sốt dao động này, nhất là loại không dứt cơn, cần chú ý lấy nhiệt độ nhiều lần trong ngày, có khi 3 lần một ngày thì mới phát hiện được cơn sốt cao.
+ Sốt hồi quy: là loại sốt từng đợt, mỗi đợt sốt kéo dài một tuần, 10 hôm, kế tiếp bằng một đợt dài như vậy không sốt, để rồi sau đợt không sốt này lại có một đợt sốt khác kế tục. Điển hình của loại sốt này gặp trong bệnh sốt hồi quy.
II. RỐI LOẠN CHỨC NĂNG.
1. Tì nh trạng tinh thần.
- Các biểu hiện nhỏ, không đáng kể như nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất hoặc kém ngủ.
- Các biểu hiện quan trọng như mê sảng, hôn mê, các động tác bất thường (bắt chuồn chuồn) và cơn co giật (thường xảy ra ở trẻ em khi sốt cao bất cứ (do nguyên nhân gì).
2. Tình trạng tim – mạch: khi sốt, tim đập nhanh lên, trung bình cứ thân nhiệt tăng 10C thì nhịp tim tăng từ 20 đến 15 nhịp trong một phút; riêng trong thương hàn có thể có sự phân ly mạch nhiệt độ (nhiệt độ vẫn cao mà mạch không tăng theo).
Sự theo dõi tim mạch rất cần thiết, vì người bệnh sốt nhiều bất cứ do nguyên nhân gì đều có thể chết vì truỵ tim mạch, cần phát hiện sớm để đối phó kịp thời bằng các biểu hiện như: nhịp nhanh, có khi có tiếng ngựa phi, tiếng tim mờ, huyết áp tụt, mạch chỉ.
3. Tình trạng thải tiết nước tiểu: trong khi sốt người bệnh thường đái rất ít. Về sau, khi sắp hồi phục, người bệnh đái nhiều hơn: hiện tượng cơn đái nhiều (crise urinaire) thường là báo hiệu cho sự khỏi bệnh. Trái lại người bệnh càng đái ít bao nhiêu càng có giá trị tiên lượng xấu.
4. Tình trạng kiệt nước và điện giải: do hiện tượng thở nhiều, ra mồ hôi khi người bệnh sốt. Biểu hiện bằng: khát nước, đái ít, môi khô nẻ, rộp, lưỡi khô, da khô nhăn nheo.
Cần phát hiện để cung cấp nước cho người bệnh hoặc bằng đường uống hoặc bằng đường tiêm (truyền huyết thanh).
5. Tình trạng chảy máu: có thể ở:
- Da và niêm mạc.
- Hoặc các phủ tạng, nôn ra máu, ỉa ra máu, đái ra máu.
6. Tình trạng tiêu hoá. Nôn, buồn nôn, ỉa lỏng, táo bón.
Sự phát hiện các rối loạn nói trên rất quan trọng, nhất là ở những người bệnh sốt nhiễm khuẩn cấp diễn: sự tập hợp của một số rối loạn ấy có giá trị tiên lượng rất nặng, mà các thầy thuốc lâm sàng thường gọi là “ hội chứng cá tính” biểu hiện bằng 4 loại triệu chứng:
- Triệu chứng thần kinh.
- Triệu chứng tim mạch.
- Triệu chứng tiêu hoá.
- Triệu chứng chảy máu.
Nếu sự phát hiện các triệu chứng này có giá trị quan trọng về tiên lượng thì sự phát hiện các triệu chứng chỉ điểm có một giá trị quan trọng để chẩn đoán nguyên nhân.
III. PHÁT HIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG CHỈ ĐIỂM.
Các triệu chứng chỉ điểm này có thể là các triệu chứng chủ quan hoặc khách quan, do đó thầy thuốc cần phải:
1. Hỏi toàn diện: cần hỏi lần lượt (để khỏi bỏ sót) các triệu chứng chủ quan thuộc từng bộ phận: hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá, gan mật, tiết niệu, tính thần kinh, vận động (cơ, khớp, xương…).
2. Khám toàn diện: phải khám kỹ lưỡng và theo trình tự như đã trình bày trong bài “ công tác khám bệnh và chẩn đoán”.
- Khám toàn thân.
- Khám từng bộ phận: không bỏ sót một bộ phận nào.
- Khám các chất thải tiết và một số thể dịch.
Các triệu chứng chỉ điểm có khi khá rõ ràng ở lâm sàng, chỉ cần làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định cụ thể hơn và đánh giá mức độ. Nhưng cũng nhiều khi lâm sàng không có một triệu chứng chỉ điểm nào cả ngoài tình trạng sốt và các rối loạn chức phận hoặc toàn thể do nó gây nên, vai trò của xét nghiệm cận lâm sàng lúc này rất cần thiết vì sẽ cung cấp cho chúng ta những triệu chứng chỉ điểm hoặc những tài liệu để làm một chẩn đoán mà có thể lâm sàng chưa nghĩ ra.
IV. CÁC XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG.
1. Nếu có triệu chứng lâm sàng chỉ điểm: đấy là những trường hợp mà nhờ các triệu chứng lâm sàng chỉ điểm đó, chúng ta đã có một chẩn đoán lâm sàng sơ bộ.
Tất nhiên trong những trường hợp này, các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ định tuỳ theo các triệu chứng lâm sàng chỉ điểm và chẩn đoán sơ bộ của lâm sàng.
2. Nếu không có triệu chứng lâm sàng chỉ điểm: trong những trường hợp này, thường phải làm một số xét nghiệm nhất loạt để qua đó chúng ta may mắn có thể tìm được một số triệu chứng cận lâm sàng chỉ điểm, góp cho chẩn đoán nguyên nhân. Thông thường các xét nghiệm cận lâm sàng như:
- Công thức máu, tốc độ lắng máu: một công thức máu có bạch cầu tăng nhiều cùng với đa nhân trung tính (nhất là làm 2- 3 lần mà vẫn có một kết quả tương tự như vậy) mà tốc độ tăng lắng máu nhanh, thường hướng cho ta một hội chứng nhiễm khuẩn, có thễ một ổ nhiểm khuẩn hoặc một ổ nung mủ sâu mà lâm sàng có thể bỏ qua.
- Ký sinh vật sốt rét (làm cả phiến đồ mỏng và giọt đặc) bắt buộc phải làm ở nước ta, nhất là ở những người đang ở hoặc vừa mới ở một vùng còn sốt rét. Muốn chính xác, cần lấy máu thử khi người bệnh đang lên cơn rét.
- Cấy máu: tốt nhất cũng nên lấy máu khi người bệnh đang sốt và nhất là chưa dùng các thuốc kháng sinh.
- Một số huyết thanh chẩn đoán: để phát hiện một số bệnh thông thường như Widal: thương hàn, Martin Pettit: sốt do Leptospira, Weil Felix: sốt do Ricketsia.
Cần chú ý, các xét nghiệm này chỉ dương tính khi bệnh đã tiến triển một thời gian, cho nên phải lấy máu thử từ tuần thứ hai, thứ ba trở đi, nếu phản ứng hơi dương tính, cần làm lại lần thứ 2. nếu lần thứ hai hiệu giá ngưng kết có tăng hơn thì mới có giá trị chẩn đoán.
- Chiếu hoặc chụp phổi: để phát hiện những tổn thương nhỏ bé mà lâm sàng có thể đã bỏ qua.
- Nước tiểu: protein, tế bào (để phát hiện các bệnh ở hệ thống thận, tiết niệu).

Điểm mặt những cơn sốt chết người
Nếu những cơn sốt có kèm theo các triệu chứng khác như rét run, xuất huyết, co giật, nôn, khó thở, hôn mê… thì có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Sốt không phải là một bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh. Sốt đa phần lành tính (sốt do viêm mũi họng, viêm amiđan, cảm cúm, do virus…).
Sốt thương hàn
Nếu bạn sốt do cảm cúm, chắc chắn sẽ có ho và sổ mũi. Sốt do thương hàn thì không kèm hai triệu chứng này mà có đặc điểm là sáng mát, chiều nóng, sốt tăng dần, kéo dài. Sốt kéo dài, liên tục, kèm theo li bì, hoảng hốt, mê sảng, môi khô, lưỡi trắng, phân lỏng, đau bụng vùng hố chậu phải. Bệnh nhân thường nhức đầu, buồn nôn, tiêu chảy, sờ ấn bụng vùng hố chậu phải nghe tiếng ọt ọt rất đặc biệt.
Sau một tuần, sốt lên đến 40 độ C nhưng mạch lại rất chậm. Thường trong các bệnh nhiễm khuẩn, nếu sốt 40 độ C thì mạch tương ứng 120 lần/phút, nhưng sốt thương hàn thì mạch khoảng 80-90 lần/phút. Biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh này là thủng ruột. Vì vậy, nếu nghi sốt do thương hàn thì phải nhập viện làm xét nghiệm để chẩn đoán xác định và có chỉ định dùng thuốc đặc hiệu.

Sốt xuất hiện có thể bạn mắc bệnh nhiễm khuẩn
Sốt xuất huyết
Bệnh dễ nhận ra bởi dấu hiệu sau đây: Sốt cao đột ngột liên tục từ 2 đến 7 ngày. Sau đó có biểu hiện xuất huyết như: chảy máu mũi, chảy máu chân răng, kinh nguyệt kéo dài, có những chấm hoặc mảng xuất huyết ở dưới da (nốt xuất huyết) hoặc tiêu hóa, đau (sờ dưới hạ sườn phải có một khối, ấn thấy đau).
Riêng với người lớn, kèm theo sốt thường là những cơn lạnh run, nhức đầu, ói mửa, tiêu chảy, đau bụng. Bệnh thường phát biến chứng (nếu có) vào ngày thứ 4 hay thứ 5. Xét nghiệm máu thấy bạch cầu hạ.
Sốt do bệnh phổi, lao
Những cơn sốt nhẹ dai dẳng, thường sốt về chiều, kém ăn, sút cân. Nếu lao phổi thường có ho, khạc đờm kéo dài, có thể ho ra máu. Vì vậy, bạn nên tới bệnh viện khám để được điều trị dứt điểm.

Hoặc sốt do lao phổi. (Ảnh minh họa)
Sốt trong thai kỳ
Phụ nữ mang thai cần thận trọng nếu bị sốt. Theo các nghiên cứu khoa học gần đây, khi người mẹ bị nhiễm bệnh nặng do các virus cúm nói chung gây ra có thể dẫn đến sốt cao, nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sẩy thai hoặc thai lưu.

Nếu bị sốt trong thai kỳ, cần làm các xét nghiệm để chẩn đoán nguyên nhân (có thể bạn bị sốt vì nhiễm siêu virus lúc bắt đầu mang thai, lây nhiễm trong thai kỳ, hay bạn bị nhiễm khuẩn do viêm bể thận, viêm nhau, màng ối, viêm gan siêu vi B…). Tùy theo tình trạng của bạn, bác sĩ sẽ có hướng điều trị hợp lý, không nên tự ý dùng kháng sinh.
Sốt do nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn ở bộ máy hô hấp: Viêm khí phế quản, viêm phổi, viêm màng phổi, áp-xe phổi, thường có biểu hiện sốt, ho khạc đờm hay máu, đau ngực, khó thở. Cần chụp X - quang lồng ngực, xét nghiệm đờm, máu.
Nhiễm khuẩn hệ thống thận - tiết niệu: Viêm bàng quang, viêm mủ bể thận, viêm cầu thận cấp. Người bệnh có biểu hiện tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ít, nước tiểu đục hay hồng, có phù, đau vùng thắt lưng. Cần xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm máu, kiểm tra chức năng thận, siêu âm, chụp X-quang vùng thận - tiết niệu.

Nhiễm khuẩn ở gan mật: Viêm đường mật, áp-xe gan, viêm gan do virus. Thường kèm theo sốt, vàng da, vàng mắt, đau vùng gan.
Nhiễm khuẩn màng não: Có sốt, nôn, nhức đầu. Có khi co giật, liệt nửa người, hôn mê. Viêm màng não là bệnh nguy hiểm, dẫn đến những hậu quả nặng nề không chỉ cho trẻ em mà còn cho cả người lớn. Bệnh gây tử vong nhanh nếu không điều trị kịp thời.

Thử gập cổ trẻ vào ngực, nếu gập không được hoặc trẻ lộ vẻ đau đớn (dấu hiệu cổ cứng) thì nhiều khả năng là viêm màng não. Đối với trẻ dưới hai tuổi, dấu hiệu thóp trước phồng cũng rất quan trọng để nhận ra viêm màng não, phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay.
Ngoài các tác nhân gây bệnh như đã kể trên, sốt còn có thể là nguyên nhân của một số căn bệnh khác, chẳng hạn như rối loạn nội tiết (cơn cường giáp) hoặc do tăng sinh tổ chức (trong ung thư và bệnh về máu). Vì vậy bạn không nên chủ quan với những cơn sốt bất thường, mà nên đến bệnh viện để các bác sĩ kiểm tra, chẩn đoán và điều trị đúng bệnh.

Chăm sóc trẻ khi bị sốt
Trước đây, các bác sĩ thường khuyên trị sốt chỉ dựa trên cơ sở thân nhiệt. Song hiện nay, người ta khuyến cáo cần kết hợp trị sốt và kiểm tra toàn bộ thể trạng của trẻ.
Những trẻ có thân nhiệt thấp hơn 38,9 độ C thường không cần dùng thuốc, trừ phi các em thấy khó chịu. Tuy nhiên, điều này có ngoại lệ, đó là nếu trẻ dưới 3 tháng tuổi có nhiệt độ được đo ở hậu môn là 38 độ C hoặc cao hơn, phải gọi ngay bác sĩ hoặc đưa trẻ đi cấp cứu. Đối với bé sơ sinh, sốt nhẹ cũng có thể là dấu hiệu của sự nhiễm trùng nghiêm trọng. Còn với trẻ lớn hơn, hãy xem xét hành vi và mức độ hoạt động của bé. Bằng cách này, bạn có thể quyết định liệu bé chỉ sốt nhẹ hay thực sự cần tới bác sĩ.
Tình trạng sốt có thể không nghiêm trọng nếu trẻ:
• Vẫn thích chơi
• Đang ăn uống tốt
• Tỉnh táo và mỉm cười đáp lại
• Sắc da bình thường
• Trông tươi tỉnh hơn khi thân nhiệt hạ
Nếu vì sốt mà trẻ không muốn ăn thì bạn cũng đừng quá lo lắng. Tình trạng này rất phổ biến đối với trường hợp sốt do nhiễm trùng.
Làm sao để biết bé sốt thế nào?
Một cái hôn lên chán bé hoặc đặt tay nhẹ lên da cũng đủ để biết được bé có sốt hay không. Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra thân nhiệt bằng xúc giác này phụ thuộc nhiêu vào cảm giác chủ quan và không thể cho biết chính xác nhiệt độ của bé.
Hãy sử dụng cặp nhiệt độ đáng tin cậy, bạn sẽ biết trẻ bị sốt hay không nếu thân nhiệt ở một trong các mức dưới đây:
- Từ 38 độ C trở lên khi đo ở hậu môn
- Từ 37,5 độ C trở lên nếu đo ở miệng
- Từ 37,2 độ C nếu đo ở nách.
Tuy nhiên, sốt cao bao nhiêu độ cũng không thể cho biết vì sao bé ốm. Cảm lạnh hoặc nhiễm virus có thể là nguyên nhân (thường từ 38,9 đến 40 độ C), song đôi khi nó không thực sự nghiêm trọng. Ngược lại, có khi bé không sốt, hoặc thậm chí còn bị hạ thân nhiệt bất thường (đặc biệt là ở trẻ nhỏ), lại tiềm ẩn một sự nhiễm trùng nghiêm trọng.
Do cơn sốt có thể tăng hoặc giảm, nên trẻ đều trải qua cảm giác gai lạnh. Nguyên nhân là do cơ thể cố gắng sinh thêm nhiệt khi sốt cao. Sau đó, bé có thể vã mồ hơi khi cơ thể hạ sốt.
Đôi khi, trẻ bị sốt có thể thở gấp hơn bình thường và nhịp tim nhanh hơn. Hãy gọi ngay cho bác sĩ nếu bé có dấu hiệu khó thở, thở nhanh hơn nhiều so với bình thường hoặc tiếp tục thở gấp sau khi hạ sốt.

Khi nào cần điều trị sốt?

Khi sờ thấy trẻ ấm hoặc sốt, ta cần chú ý đến những biểu hiện bất thường về hành vi của trẻ hơn là quan tâm đến chỉ số nhiệt độ. Sốt hoặc nhiệt độ cao ở trẻ không phải lúc nào cũng nói lên đúng tình trạng bệnh, đôi khi không nguy hiểm. Không nhất thiết phải làm cho nhiệt độ trở về bình thường ngay lập tức, sốt có thể tự giảm trừ khi trẻ bức rức khó chịu quấy khóc. Tuy nhiên, làm giảm thân nhiệt cho trẻ khi sốt sẽ làm cho trẻ dễ chịu hơn.

Điều trị sốt ở trẻ như thế nào?

- Cho trẻ mặc đồ thoáng, nhẹ nhàng.
- Để trẻ nằm ở nơi thoáng mát.
- Nếu trẻ sốt cao trên 39oC, lau mát cho trẻ: nhiệt độ nước thường thấp hơn thân nhiệt của trẻ 2oC, nghĩa là dùng nước lạnh thường lau mát cũng được rồi. Đặt khăn ẩm ở trán, hõm nách và bẹn của trẻ.
- Cho trẻ ăn thức ăn lỏng (cháo, canh) và uống nhiều nước.

Thuốc hạ nhiệt không phải là phương pháp đầu tiên. Có nhiều cách làm giảm thân nhiệt của trẻ trước khi dùng đến thuốc hạ nhiệt. Thuốc hạ nhiệt chỉ dùng khi thân nhiệt của trẻ bằng hoặc trên 39oC.

Acetaminophen liều 10-20 mg/kg uống hoặc dùng viên đặt hậu môn mỗi 4 – 6 giờ.

Những điều không nên

- Đặt trẻ trước ngay quạt hoặc máy lạnh.
- Để trẻ lạnh run vì điều này có thể làm nhiệt độ tăng cao hơn.
- Đánh thức trẻ dậy để đo nhiệt độ trừ khi trẻ ngủ quá lâu một cách bất thường.

Cần đưa trẻ đến bác sĩ khi:

- Sốt trên 48 giờ.
- Sốt kèm nổi ban.
- Trẻ dưới 6 tháng tuổi.
- Sốt cao co giật.
- Hoặc sốt và kèm theo các triệu chứng sau:

+ trẻ kích thích, quấy khóc;
+ gồng cứng cổ;
+ kèm theo khò khè, ho hoặc thở nhanh;
+ hôn mê hoặc lơ mơ;
+ tiêu chảy hoặc nôn.

Bài Viết liên quan (bằng từ khóa)